VANG BÓNG MỘT THỜI

Tùy bút nổi tiếng của Nguyễn Tuân

Trọng Đạt

Vang Bóng Một Thời viết năm 1940 đã được dư luận chung coi như một trong những tác phẩm hay và nổi tiếng nhất của nền văn chương Việt Nam, cũng là một trong những tác phẩm được nhắc tới nhiều nhất, được coi như ngang hàng với Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng, Đôi Bạn của Nhất Linh, truyện đã được tác giả Nhà Văn Hiện Đại ca ngợi như sau.

Tác phẩm đầu tay của ông là một văn phẩm gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ. Đó là tập Vang Bóng Một Thời (Tân Dân – Hà Nội 1940).

Tập truyện đã làm sống lại cả một thời phong kiến đã qua với những nghệ thuật cổ thanh cao, những nếp sống, sinh hoạt xã hội nho phong của một nền văn minh xưa cũ, nó cũng là niềm nuối tiếc của một tâm hồn hoài cổ trước những cái hay, cái đẹp, những nghệ thuật cầu kỳ của một thời đại đã qua, cái thời ấy nay đã chết rồi, chỉ còn để lại một tiếng vang:

. . . . Vang Bóng Một Thời. .

Nguyễn Tuân sinh năm 1910 tại Hà Nội trong một gia đình nho giáo, con cụ Tú Hải Vân , thời còn trẻ ông đã theo gia đình sinh sống tại nhiều tỉnh miền Trung . Năm 1929 tham gia bãi khóa bị đuổi học, trốn sang Băng Cốc bị bắt giải về nước và bị bỏ tù, năm 1937 sống bằng nghề viết, năm 1938 sang Hồng Kông đóng phim Cánh Đồng Ma, năm 1945 theo Việt Minh , mất năm 1987 tại Hà Nội.

Cũng như nghìn, vạn người yêu nước khác ông đã tham gia kháng chiến chống Pháp, theo Hoàng Văn Chí trong cuốn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản (De la colonisation au communisme), kháng chiến khởi đầu bằng phong trào yêu nước và kết thúc bằng Cộng Sản, những nhà ái quốc như Nguyễn Tuân đã lỡ theo nên phải theo luôn , ngẫu nhiên rơi vào thế cưỡi cọp, đã leo lên rồi không thể nhẩy xuống được nữa.

Các tác phẩm chính của ông viết trước ngày theo kháng chiến Việt Minh gồm: Ngọn Đèn Dầu Lạc viết 1939, Quê Hương 1940, Tàn Đèn Dầu Lạc 1941, Chiếc Lư Đồng Mắt Cua 1941, Tùy Búy Một, Tùy Bút Hai 1943, Nguyễn 1945, Chùa Đàn 1946.

Vang Bóng Một Thời do Tân Dân Hà Nội xuất bản 1940, được coi như tác phẩm đầu tay của Nguyễn Tuân, được Thạch Lam khen hay trên báo Ngày Nay và nổi tiếng ngay. Tác giả của nó là con người giang hồ ăn chơi phóng đãng, ông đã diễn tả cuộc đời ăn chơi phóng túng và trụy lạc trong Quê Hương, Một Chuyến Đi, Chiếc Lư Đồng Mắt Cua, Ngọn Đèn Dầu Lạc. Nhưng ông lại tỏ ra hoài niệm dĩ vãng, tiếc nhớ những nét huy hoàng của một nền văn minh tinh thần, đó lại chính là bề mặt trái của con người trên. Ông Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, cuốn 3 có nói.

Những hàng trên viết ngay từ 1938 (trên Tiểu thuyết thứ bẩy) có thể coi là nguồn gốc tậm lý và cảm hứng của Vang Bóng Một Thời về sau. Yêu quá khứ đi tìm trong quá khứ những hình ảnh nên thơ nên mộng.

Nguyễn Tuân là một nhà văn không thuộc về trường phái nào, văn đoàn nào, ông tự đứng riêng ra một phái cả về văn chương tư tưởng, Vũ Ngọc Phan xếp ông vào loại nhà văn chuyên về tùy bút. Tùy bút được định nghĩa là để tùy ý cho ngọn bút diễn tả một cách rộng rãi tự do tâm tư của tác giả.

Ông Phạm Thế Ngũ định nghĩa như sau.

Duy có điều là ký sự của ông không phải như ở giai đoạn Nam Phong. . . . . mà là đại biểu cho một giai đoạn già dặn . . . . . để tự do, tùy bút, muốn viết gì thì viết, ghi chép gì cũng được. Những truyện của Nguyễn Tuân hơn cả với Thạch Lam chẳng có gì làm truyện cả; nghĩa là những yếu tố thông lệ gọi là động tác, là thắt là cởi. Chỉ là những mảnh đời hé lộ của cuộc sống xưa, hay là những kể lể dông dài về một cuộc gặp gỡ, những tâm sự lê thê, những cảm tưởng vụn vặt của chính mình.

Nhà phê bình văn học trong nước Nguyễn Mạnh Đăng định nghĩa như sau.

Tùy bút là gì? Định nghĩa vừa dễ lại vừa khó. Dễ vì khái niệm bản thân nó đã tự giải thích,: là phóng bút, tùy bút mà viết chứ sao. . . có thể hiểu một cách đại khái thế này: người viết tùy bút thường mượn cớ thuật lại một sự kiện, một mẩu chuyện nào đó mà mình có trải qua để nhân đấy nêu lên những vấn đề này khác mà bàn bạc, mà nghị luận, triết luận, ném ra những suy tưởng của mình một cách thoải mái phóng túng.

Nguyễn Tuân với Vang Bóng Một Thời và Thạch Lam với Hà Nội Băm Sáu Phố Phường được coi là hai người đầu tiên xây dựng thể tùy bút, tại miền Nam Việt nam từ sau 1954 đến 1975, các nhà văn tên tuổi nhiều người đã viết tùy bút, nay tại Hải ngoại, thể văn này lại rất thịnh hành được nhiều người ưa chuộng. Vang Bóng Một Thời được coi như cuốn tùy bút đầu tiên của Việt Nam, mặc dù ngoài trang đầu đề là truyện nhưng trên thực tế người ta vẫn coi đây chỉ là tập tùy bút vì truyện đa số không có kết thúc hoặc gỡ nút đúng theo tinh thần của một truyện, tác phẩm được in ra nhằm vào lúc có cơn gió phục hưng nên đã được độc giả hoan nghênh nồng nhiệt, từ 1940 đến 1945 đã được tái bản ba lần, được tặng giải thưởng Gia Long. Nay trong nước Vang Bóng Một Thời vẫn là một tác phẩm được độc giả vô cùng hâm mộ: năm 1988 nhà xuất bản Văn Học đã tái bản lần thứ sáu với 30.000 cuốn bản giấy đẹp, bìa cứng.

Toàn bộ tác phẩm gồm mười một truyện hay bài được xếp theo thứ tự như sau: Chém Treo Ngành, Những Chiếc Ấm Đất, Thả Thơ, Đánh Thơ, Ngôi Mả Cũ, Hương Cuội, Chữ Người Tử Tù, Ném Bút Chì, Chén Trà Trong Sương Sớm, Một Cảnh Thu Muộn, Báo Oán. Tác phẩm gồm hai loại đề tài chính: tàn bạo, phũ phàng rùng rợn và thanh tao nhẹ nhàng thi vị. Tôi xin đề cập theo thứ tự hai thể loại ấy như sau: Chém Treo Ngành, Ném Bút Chì, Chữ Người Tử Tù, Báo Oán, Hương Cuội, Chén Trà Trong Sương Sớm, Những Chiếc Ấm Đất, Một Cảnh Thu Muộn, Ngôi Mả Cũ, Thả Thơ, Đánh Thơ .

CHÉM TREO NGÀNH

Đây là bài đầu tiên của tác phẩm, Nguyễn Tuân ngụ ý cho là hay nhất nhưng lạ thay nó lại ít được các nhà phê bình như Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ . . . ca ngợi. Trong cuốn Nguyễn Tuân, Về Tác Giả Và Tác Phẩm, nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội năm 2001, dầy 600 trang khổ lớn, gồm trên 100 bài nói về Nguyễn Tuân, Chém Treo Nghành cũng không được các nhà phê bình trong nước chú ý bằng các truyện khác.

Đây là một đề tài tàn bạo, phũ phàng, rùng rợn hoàn toàn trái ngược với tinh thần nhẹ nhàng thanh tao của các nghệ thuật cầm, kỳ, thi, tửu vì nó là một nghệ thuật giết người, chém người ngọt như chuối vậy. Nguyễn Tuân ẩn núp dưới chiêu bài làm sống lại một nghệ thuật cổ để phơi bầy tội ác ghê tởm, rùng rợn của thực dân Pháp và bọn tay sai bán nước vời loài người.

Bát Lê là một tay đao phủ có tiếng, chuyên xử dụng thanh quất, loại kiếm hai lưỡi nay đã về già, mỗi lần có án trảm, ông chỉ ra pháp trường cho có mặt, việc đã có người khác đỡ tay. Nhưng nay quan lớn Đổng lý Quân vụ gọi vào cho biết có mười hai tên tử tù sắp phải bị hành hình, quan công sứ (thực dân) muốn được thị kiến. Bát Lê có tài chém đầu rất ngọt, chỉ một nhát lướt qua là đứt cổ nhưng vẫn còn dính một làn da.

Thế là Bát Lê được phép vào vườn chuối để tập luyện cho thuận tay. Đến ngày hành hình, Bát Lê hoa thanh quất, mười hai cái đầu của tội nhân bị chẻ gục xuống, không một giọt máu vấy vào áo hắn, Bát Lê được quan công sứ thưởng mấy cọc bạc đồng bà lão.

So với toàn bộ Vang Bóng Một Thời, Chém Treo Nghành đã được Nguyễn Tuân diễn tả kỹ lưỡng, tỉ mỉ, trong sáng và trang trọng; từ tả cảnh cho đến lối hành văn đều đã được chăm sóc tận tình. Ngay khi mở đầu tác giả đã tạo cho bài một không khí rùng rợn, quái đản qua tiếng hát tẩy oan của tên đao phủ, ngụ ý hắn vô tội.

Trời nổi cơn lốc
Cảnh càng u sầu
Tiếng loa vừa dậy
Hồi chuông mớm mau
Ta hoa thanh quất
Cỏ xanh đổi màu
Sống không thù nhau
Chết không oán nhau
Thừa chịu lệnh cả
Dám nghĩ thế nào
Người ngồi cho vững
Cho ngọt nhát dao
Hỡi hồn!
Hỡi quỉ không đầu

Ngay khi Bát Lê còn tập luyện tại vườn chuối, sự diễn tả đã đủ thể hiện sự phũ phàng tàn bạo của tội ác:

Bát Lê lại tiến thêm ba bước đến ngang tầm cây chuối hàng đầu dẫy bên trái, Bát Lê thuận đà thanh quất, lại chém xuống đấy một nhát thứ hai. Một thân cây thứ hai gục xuống nữa như một thân hình người quì, chịu tội. Thế rồi vừa hát vừa chém bên trái, vừa chém bên phải, Bát Lê đã hát hết mười bốn câu, và đánh gục mười bốn cây chuối.

Để tăng phần hồi hộp, rùng rợn Nguyễn Tuân đã tả cảnh rất trịnh trọng, cảnh tĩnh cũng như hoạt cảnh.

Trước nhà rạp người ta đã chôn sẵn mười hai cái cọc tre bị vồ gỗ đập mạnh xuống toét cả đầu. . . . . . . .

. . . . Trời chiều có một vẻ dữ dội. Mặt đất thì sáng hơn nền trời. Nền trời vẩn những đám mây tím đỏ vẽ đủ mọi hình quái lạ. Những bức tranh mây chó mầu thẫm hạ thấp thêm và đè nặng xuống pháp trường oi bức và sáng gắt.
Mọi người chờ đợi một cái gì.

Tác giả đã vô cùng khéo léo tả chân kỹ kưỡng sự chuẩn bị cho cuộc hành quyết để che mắt bọn kiểm duyệt, bọn thám tử thực dân, ông đã thành công trong sự tố cáo tội ác man rợ của bọn chúng như sau:

Lũ tử tù bị trói giật cánh khuỷu, quì gối trên mặt đất, khom khom lưng, xếp theo hai hàng chênh chếch nhau, chầu mặt vào rạp. Những người giữ phần việc ở bãi đoạn đầu đang bóp hông, nắn xương cổ và tuốt cho mềm sống lưng lũ tử tù. Họ cần om thế nào cho tội nhân lúc quì phải để được gót chân đúng vào cái mẩu xương cụt nơi hậu môn. Như thế tử tù sẽ phải rướn mình lên mà nhận lấy lưỡi đao thả mạnh xuống cái cổ căng thẳng. Họ lạnh người dần dần. Sinh khí chừng như đã thoát hết khỏi người họ.

Những người bị hành hình là dư đang của giặc Bãi sậy, những nhà ái quốc sa cơ thất thế, bằng nghệ thuật tả chân đường gươm tuyệt diệu của tên đao phủ, Nguyễn Tuân đã thành công trong sự tố cáo hành động bạo ngược của bọn sát nhân, chúng đã nhẫn tâm lấy việc giết người làm trò chơi tiêu khiển.

Một tiếng loa. Một tiếng trống. Ba tiếng chiêng. Rứt mỗi hồi chiêng mớm, thì một tấm linh hồn lại lìa khỏi một thể xác. Tùng! Bi li! Bi li!

Bát Lê bắt đầu hoa không thanh quất mấy vòng. Rồi y hát những câu tẩy oan với hồn con tội. Trong nhà rạp, các quan chỉ nghe thấy cái âm lơ lờ rờn rợn, quan công sứ chăm chú nhìn Bát Lê múa lượn giữa hai hàng tử tù múa hát đến đâu thì những cái đầu tội nhân bị quì kia chẻ gục đến đấy, những tia máu phun kêu phì phì, vọt cao lên nền trời chiều. Trên áng cỏ hoen ố, không một chiếc thủ cấp nào rụng xuống.

Nguyễn Tuân và Thạch Lam những nhà văn Việt Nam đầu tiên xử dụng lối mô tả tàn bạo y như Sholokhov trong tác phẩm vĩ đại Sông Don Thanh Bình (The Quiet Don) với những đường gươm bửa đôi đầu địch thủ, bằng những nét chấm phá tuyệt diệu tác giả đã tô điểm thêm bản cáo trạng tội ác của bọn sát nhân như sau.

Bát Lê làm xong công việc, không nghỉ ngơi, chạy tuốt vào đứng trước nhà rạp. Bấy giờ quan Công Sứ mới nhìn kỹ. Y mặc áo dài trắng, một dải giây lưng điều thắt chẽn ngang bụng. Thấy trên quần áo trắng của y không một giọt máu phun tới, quan Công sứ gật gù hỏi quan Tổng Đốc để nhớ lấy tên họ một người đao phủ có lối chém treo nghành rất ngọt. Ngài thưởng cho Bát Lê mấy cọc bạc đồng bà lão.

Tác giả đã ẩn mình vô cùng khéo léo dưới cách mô tả nghệ thuật hành hình để tố cáo tội ác của bọn sát nhân khát máu với nhân loại ngày một cao và nhiều hơn, ông đã qua mặt được cặp mắt cú vọ của bọn kiểm duyệt.

Lúc quan Lưu Trú gần cầm mũ áo từ về tòa sứ, quan Đổng lý Quân vụ còn ân cần buộc ông thông ngôn Nam Kỳ dịch cho đủ câu này.

-Bẩm quan lớn, chém treo nghành như thế này là phải lựa vào những lúc việc quân quốc thanh thản, số tử tù ít ít thôi. Vào những lúc nhộn nhạo quá, tử tù đông quá, thì ty chức đã có cách khác. Là chẻ đôi cây tre đực dài ra, cặp vào cổ tử tù xếp hàng và nối đuôi quì hướng về một chiều. Đại để nó cũng như là cái lối cặp gắp chả chim mà nướng ấy. Rồi Bát Lê sẽ cầm gươm mà róc ngang như người ta róc mắt mía.

Thuật chém treo nghành của Nguyễn Tuân khiến tôi lại nhớ đến thuật sử sóc siên của bọn Thổ Nhĩ Kỳ khi chúng cai trị Nam Tư hồi thế kỷ thứ 18 trong cuốn tiểu thuyết bất hủ Cầu Sông Drina (Il est un pont sur le Drina) của nhà văn Nam Tư Ivo Andrich viết năm 1945, được giải Nobel văn chương năm 1961 mà ông Phạm Công Thiện đã cho là giải văn chương xứng đáng nhất trong vòng mười năm qua.

Họ trói kẻ tử tù bắt nằm xuống đất rồi lấy một cây cọc vót nhọn đầu bịt sắt đóng từ hậu môn đóng lên. Tên đao phủ là một tay rất thiện nghệ, hắn đóng rất khéo khiến cho mũi nhọn nằm giữa xương sống và các bộ phận trọng yếu như tim, gan, phèo, phổi. . . nó không đụng vào xương sống và các bộ phận ấy để khiến cho tên tử tội phải chết ngay. Hắn đóng từ từ cho cọc lên đến tận cổ mà tội nhân vẫn còn sống. Khi ấy chúng đem dựng cọc nơi bờ sông để răn đe nhân dân, những kẻ dám chống lại chúng, nạn nhân phải chịu đau đớn hai ngày sau mới chết.

Ivo Andrich cũng như Nguyễn Tuân đã tả chân kỹ lưỡng những nghệ thuật giết người kinh hoàng khủng khiếp ấy để tố cáo với nhân loại tội ác và thú tính của bọn thực dân bạo ngược. Mặc dù phải vượt qua hàng rào kiểm duyệt gai góc của thực dân, Nguyễn Tuân vẫn lém lỉnh đưa vào đoạn kết những lời tiên tri cũng như ước vọng của ông về ngày tàn của chế độ thực dân đại gian đại ác.

Lúc quan Công sứ ra về, khi lướt qua mười hai cái đầu còn dính vào cổ người chết quì kia, giữa sân pháp trường sắp giải tán, nổi lên một trận gió lốc xoáy rất mạnh. Thường những lúc xuất quân bất lợi, tưởng cơn gió lốc cuốn gẫy ngọn cờ súy, cũng chỉ mạnh được thế thôi. Trận gió soắn hút cát, bụi lên, xoay vòng quanh đám tử thi.
Bấy giờ vào khoảng giữa giờ thân.

Lối hành văn cổ kính, chịu ảnh hưởng của truyện Tam Quốc, Tây Hán Chí. . . Bố cục sáng sủa, khoa học, tả cảnh linh hoạt, sống động . . khiến cho Chém Treo Ngành trở thành tùy bút nổi bật nhất trong Vang Bóng Một Thời, đã được coi như một trong những áng văn tuyệt diệu nhất của nền văn chương Việt Nam.

Tôi thiết nghĩ chúng ta cũng nên phiên dịch tác phẩm ấy ra các tiếng ngoại ngữ để tố cáo tội ác tầy trời của bọn thực dân, để cho cả thế giới thấy cái bộ mặt ghê tởm của chúng, bọn thực dân thường huyênh hoang ta đây yêu chuộng công bằng, bác ái, đi truyền bá văn minh nhưng thực chất chúng chỉ là bọn uống máu người không tanh đã đem cảnh máu chảy thịt rơi ra làm trò tiêu khiển y như những tên bạo chúa La Mã ngày xưa vậy.

NÉM BÚT CHÌ

Trong truyện này Nguyễn Tuân diễn tả những môn võ nghệ cao cường của bọn ăn cướp thời ấy: Ném bút chì, tức là phóng một cái mai (cây xuổng lưỡi bằng đào đất) để giết địch thủ, cán mai có buộc sợi dây thừng, phóng tới mục tiêu rồi giật cái mai trở lại. Lý Văn nhân vật chính, tên trùm đảng cướp là tay ném bút chì giỏi nhất, hắn có thể phóng cây mai cắt đứt hai chân con gà nhưng còn chừa lại một làn da y như chém treo nghành vậy.

Toàn bài có một vẻ uy nghi như không khí hào hùng của truyện Thủy Hử với những tay giang hồ hảo hán như Tống Giang, Triệu Cái . . . Tác giả đã làm sống lại cái thời xa xưa ấy qua buổi sinh hoạt của bọn cướp trước khi chúng đánh một mẻ lớn vào tối hôm ấy. Bọn ở Kim Sơn và bọn ở Tam Tổng đến tìm Lý Văn, trong đó Cai Xanh là tay chơi nổi tiếng ở vùng Thanh nội, Thanh Ngoại, những tay anh chị trong đám cướp lớn đều phải phục tài nghệ hắn, Nguyễn Tuân mô tả về huyền thoại con dao hai lưỡi của Cai Xanh như sau.

Trong những phút rất nguy nan, phải giết kẻ khác để gỡ lấy mạng mình, chưa bao giờ Cai Xanh chịu phóng dao và bỏ dao lại trên chiến địa. Hóa cho nên con dao đó, sau những khi cắm ngập vào thớ thịt còn nóng hổi giòng máu của bao nhiêu tử thi, dao đó lại trở lại nằm trong hầu bao của Cai Xanh. Chung quanh con dao thép sáng ngời, một huyền sử kinh sợ đã bao chùm.

Hôm sau, phó Kinh tay phóng bút chì có tiếng lại tìm Lý Văn, cả bọn Tam Tổng và Kim Sơn cùng kéo tới nhà Lý Văn, họ cùng đánh chén rượu thịt. . phó Kinh trổ tài.

Phó Kinh cuộn mấy vòng dây thừng dài đến mấy sải vào cánh tay trái. Bàn tay trái y nắm chắc cổ cán mai, bàn tay phải y giữ đốc ngọn mai.
-Đàn anh thử xem hạ cây chuối phía bên trái.
Bỗng một tiếng phập, thân trên cây chuối đã gục xuống mặt đất, kêu đánh roạt.

Rồi hắn dựt cái mai nằm gọn trong tay, hắn biểu diễn một đường nữa hạ buồng chuối nhưng quá tay đứt nửa thân cây chuối. Lý Văn tay nghề rất cao so với phó Kinh, hắn nói có khi phải nhẹ tay vì chỉ cần đánh dọa người ta thôi, Lý Văn bèn phóng bút chì vào một con gà, vết thương gọn gàng vừa đúng quãng đầu gối, cặp giò chưa đứt hẳn còn một lần da y như chém treo nghành.

Tay nghề của tên trùm cướp được diễn tả như sau.

Lý Văn gác mai nói với cả bọn.
-Nếu mình ném mạnh tay quá và không biết tính sức đi của “bút chì”là nát mất gà. Các chú không phải đánh những “tiếng bạc” vào sinh ra tử, các chú không biết chứ đòn “bút chì”khó khiến lắm. Và một cây “bút chì”ngang tàng như thế mà phải lụy một cành tre đấy. Chú nào hay xử cây “bút chùng”ở các đường độc đạo, nên cẩn thận khi thấy bên địch tung cành tre ra để phá “bút chì”. Để hôm nào rảnh, anh sẽ dậy cho các chú tập đánh cái lối đón bơi chèo bằng gỗ cau. Đánh đến đòn hỗn chiến ấy thì đầu người rụng cứ như sung.

Nguyễn Tuân không có ý ca ngợi bọn cướp nhưng chỉ mô tả những đòn, thuật cao tay của chúng. Chắc là tác giả đã nghe các bậc cha ông kể lại chuyện tại những vùng miền Thanh Hoá, nơi ông đã theo gia đình sinh sống tại miền Trung. Ném Bút Chì đã mô tả một cách sinh động những món võ nghệ cao cường của các tay giang hồ hảo hán khiến ta như thấy hiện ra cái không khí hào hùng của Thủy Hử với Tống Giang, Triệu Cái. .

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

Truyện một viên quan cai ngục hâm mộ chữ viết đẹp của tên tử tù, một người văn võ song toàn, xin cho được thủ bút của người ấy, tác giả ca ngợi thú chơi chữ của viên quan.

Một viên quan cai ngục tại tỉnh Sơn nhận được sáu tên tù tội chết chém, đứng đầu là Huấn Cao, người có tài viết chữ đẹp, văn võ song toàn. Viên quan sai một người thơ lại mang rượu thịt biệt đãi người tử tù, Huấn cao tỏ vẻ bực mình không muốn nhận nhưng viên quản ngục vẫn vui vẻ không cáu giận ông với hy vọng ông sẽ dịu tính nết để viết cho mình mấy chữ trên chục vuông lụa. Một buổi chiều viên quan nhận được lệnh giải Huấn Cao và các đồng chí vào kinh, sai thơ lại vào nói cho Huấn Cao biết, ông nói từ trước đến nay chỉ viết có vài bộ chữ cho mấy người bạn thôi, cảm kích vì tấm lòng hâm mộ của viên quản ngục, Huấn cao bằng lòng cho chữ trên tấm lụa trắng rồi đĩnh đạc bảo.

-Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy quản nên thay chỗ ở đi, chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn rõ ràng như thế. Thoi mực, kiếm được ở đâu tốt và thơm lắm. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?. . . ta bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ, ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.

Theo các nhà phê bình trong nước Huấn Cao chẳng ai khác hơn là Cao bá Quát, con người bất đắc chí đi làm cách mạng chống lại chế độ phong kiến, họ nói Nguyễn Tuân là người yêu nước ca ngợi tinh thần phản kháng của Huấn cao. Theo tôi biết Nguyễn Tuân không có mục đích nào khác hơn là diễn tả tấm lòng yêu nghệ thuật của một viên quan coi ngục, ông ta phải hạ mình chiều chuộng một tên tử tù để xin chữ viết, người tử tù tài hoa nổi tiếng là văn hay chữ tốt, ông đã bị Huấn cao khinh mạn mà vẫn kiên nhẫn sai thư lại mang rượu thịt biệt đãi người tù này cho đến khi xin được chữ viết.

Các nhà phê bình trong nước chú trọng khen ngợi truyện này rất nhiều, họ hay có phong trào, cũng như trong cuốn Thạch Lam Về Tác Giả Và Tác Phẩm, nhiều nhà đã khen lấy khen để truyện Hai Đứa Trẻ (Nắng Trong Vườn) là độc đáo sâu sắc. . mà thực ra nó lại không được dư luận chung chú ý mấy, ta không thấy họ nói nó hay ở chỗ nào. Khi có một hoặc hai nhà phê bình khen hay là họ a dua nhau khen lấy khen để.

BÁO OÁN

Truyện này nhuốm màu ma quái tựa như không khí quái đản trong Liễu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh hay trong những truyện quái đản của Edgar Poe, nhà văn cổ điển Mỹ, truyện cũng có giá trị như một tài liệu về những ngày suy tàn của nho học, những năm tháng cuối cùng của cái học nhà nho.

Khóa trước, tại tỉnh Hà Nam, ông Đầu Xứ Anh bị loại ngay vòng đầu, khóa này ông không nạp quyển dự thi mặc dù nhiều người khuyến khích ông nhưng ông nhường cho em, Đầu Xứ Em xuôi tỉnh sửa soạn thi. Ba năm trước chánh chủ khảo khấn “Báo oán giả tiên nhập, báo ân giả thứ nhập”, oan hồn vào báo oán ông Đầu Xứ Anh, một người đàn bà trẻ xõa tóc, ẵm con hiện ra dưới lều, kêu khóc, lấy mực đổ vào quyển ông, giữ gịt tay không cho ông viết, rồi ông lại thấy nổi cơn đau bụng phải bỏ dở kỳ thi. Nguyên do ông cụ thân sinh đã khiến một nàng hầu tự ải khi bà có thai sáu, bẩy tháng, cái âm oán sẽ còn theo mãi nếu ông còn dự thi, khóa này ông để ông em đi thi xem có còn báo oán nữa không. Hai ông ghé quán cô Phương, cô hàng sách có cảm tình với ông anh.

Ông em vào trường thi, thấy đau bụng, ông đốt vàng tự nhiên nghe tiếng cười lanh lảnh, rồi lại mớ tóc xoã, người đàn bà cất tiếng the thé, ông đau bụng dữ dội gục xuống . . . người ta điểm trống ngoại hạn.

Truyện này đúng với cái ý nghĩa vang bóng của một thời đã qua trong khung cảnh một khóa thi nho học cuối cùng, Nguyễn Tuân không ca ngợi cái học nhà nho lỗi thời hủ lậu nhưng chỉ có tính cách mô tả sự suy tàn của một thời kỳ văn học, của một nền văn minh tinh thần đã qua.

Ở vào buổi giao thời, nếu người ta còn cái lòng công danh, thì khoa thi Mậu Ngọ là một cơ hội cuối cùng. Từ Mậu Ngọ trở về sau, sẽ mở một thời khác, chữ Hán chỉ còn là một thứ xa xỉ phẩm trong cõi học vấn của một lớp người. Từ sau khoa này, cái lều, cái chõng chỉ còn là những vật cổ tích mỗi khi nhắc nhỏm tới lại gợi lại một chút nhớ tiếc trong lòng một đám người mệt mỏi còn sống thêm một ngày là càng chỉ thêm một ngày bỡ ngỡ với phong hội mới.

Mặc dù là truyện ma quái nhưng cũng có thể là truyện có thật trong chốn thi cử lều chỗng xa xưa, một ông anh văn hay chữ tốt bị báo oán do ông cụ thân sinh ăn ở thất đức nên đã hỏng kỳ thi trước, nhường cho ông em đi thi khóa sau nhưng rốt cuộc cũng vẫn bị báo oán phá hỏng kỳ này. Ông Đầu Xứ Anh đã đi coi đồng cốt biết rằng cái oan hồn của người đàn bà vẫn theo ông mãi. Nguyễn Tuân sở trường cả về hai chủ đề rùng rợn cũng như nên thơ thi vị, dưới đây là đoạn văn thể hiện không khí quái đản của tác giả.

Một người đàn bà trẻ, sõa tóc ẵm con, hiện ngay dưới lều, ngay chỗ đầu chõng, kêu gào giữ gịt lấy tay không cho viết. Gào khóc chán người đàn bà ấy lấy mớ tóc soã quất vào mặt ông cứ bỏng rát lên và cười sằng sặc, lấy nghiên mực đổ vào quyển ông.

Hoặc.

Cái âm oán ấy còn theo đuổi ông mãi, nếu ông cứ còn lều chiếu ở cửa trường thi. Đấy là lời người thiếp đó lúc ốp vào con đồng khi phụ lên. Nàng xưng là cô và gọi ông Đầu Xứ Anh là nó, cười sằng sặc và giọng nói the thé “nó còn đi thi cô còn báo mãi. Các người hỏi cô muốn gì ấy à! Cô muốn, cô muốn nó phạm húy, cho nó bị tội cả nhà kia

Đây không phải chỉ nói đến chuyện báo oán tại trường thi nhưng nó còn là một bài thuật sự đầy đủ về khoa thi cử Hán nho, từ cảnh sĩ tử mang lều chõng ra đi đến sinh hoạt tại trường thi, lễ cúng tam sinh trâu, dê, lợn. Có thể nói đây là một áng văn chương hay, một tài liệu giá trị về trường thi nho học vào lúc suy tàn.

HƯƠNG CUỘI

Ngoài cái biệt tài diễn tả không khí quái đản rùng rợn như ta thấy ở các truyện trên, Nguyễn Tuân cũng làm sống lại cả một nền văn minh tinh thần thanh cao,huy hoàng rực rỡ, một thế giới tao nhã đầy những phong, hoa, tuyết, nguyệt . . . như Hương Cuội ở đây.

Cụ Kép người làng Mọc có thói quen mặc áo lông cừu ra vườn để chăm sóc hoa thơm cỏ quí, chiều ba mươi gia đình dọn dẹp để ăn Tết, gói bánh chưng, nấu cỗ. . . cụ Kép sai người nô bộc lấy rổ đá cuội trắng đem ra ao rửa sạch, lựa những viên tròn để riêng ra, cụ đã cho ngâm thóc lấy mầm nấu kẹo mạch nha từ mấy hôm nay. Cụ đã hoàn toàn nhàn rỗi, chỉ thích uống rượu ngâm thơ và chơi hoa lan, chăm sóc hoa cỏ tận tình. Hai ông Ấm con trai cụ đang phất giấy vào những nan lồng, nồi kẹo mạch nha nấu xong phải đợi canh hai mới nguội.

Bõ già lấy cuội trải trên mặt đất những chậu hoa gần nở rồi lấy những hạt cuội tròn bỏ vào nồi kẹo quấn kẹo bọc kín lấy đá, xong đặt trên lượt đá sỏi trên nền đất của chậu hoa. Hai ông Ấm úp lồng bàn giấy lên chậu hoa vừa lúc cúng giao thừa.

Năm nay cụ Tú Kép cùng bốn cụ bạn uống rượu với kẹo tẩm mạch nha ngày mồng một Tết, các cụ nhận xét phê bình về kẹo, tiệc rượu rồi bàn chuyện văn thơ.

Đây là bài tùy bút thi vị thanh tao nhất của Vang Bóng Một Thời, tác giả đã dựng lại cả một thế giới đầy hương thơm ngào ngạt của hương lan, kẹo đá, chắc hẳn Nguyễn Tuân đã chịu ảnh hưởng của thi ca đời Đường, của những thú vui tao nhã ngâm thơ, vịnh nguyệt.

Quân tự cố hương lai
Ưng tri cố hương sự
Lai nhật ỷ song tiền
Hàn mai trước hoa vị
(Vương Duy)

Bạn từ quê cũ đến, chẳng hỏi han gì hơn là cây hoa mai trước cửa sổ đã nở hay chưa? Nghệ thuật mà tác giả đem lòng nuối tiếc lại toàn là những nghệ thuật cầu kỳ.

Cụ Kép thường nói với lớp người bạn cũ rằng có một vườn hoa là một việc dễ dàng, nhưng đủ thời giờ mà chăm sóc đến hoa mới là việc khó. Cụ muốn nói rằng người chơi hoa nhiều khi phải lấy cái chí thành chí tình ra mà đối đãi với cả đến cái đẹp không bao giờ lên tiếng nói. Như thế mới phải đạo của người tài tử. Chứ còn cứ gây được một khoảnh vườn, khuân hoa cỏ ở các nơi về mà trồng, phó mặc chúng ở giữa trời, đầy chúng ra mưa nắng với thờ ơ, chúng trổ bông không biết đến, chúng tàn lá cũng không hay, thì chơi hoa làm gì thêm tội với Chúa Xuân.

Những nghệ thuật thưởng xuân ấy thật là xa lạ, độc đáo ít ai ngờ tới như đá kẹo, tác giả diễn tả tỉ mỉ lúc rửa cuội đến khi bỏ vào nồi kẹo, úp lồng bàn giấy lên chậu hoa đầy kẹo để ủ hương thơm lên kẹo. . . . cho đến khi các cụ nhắm rượu, thưởng xuân nhai kẹo, làm thơ. . . thật là vô cùng thi vị khiến ta như thoáng thấy một niềm nuối tiếc cho những cái hay, cái đẹp của một nền văn minh tinh thần rực rỡ nay còn đâu.

Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất chật hẹp từ đêm qua đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây. Bốn cụ và bõ già đánh hơi mũi; những cặp mắt kém cỏi đăm đăm nhìn kỹ bầu không khí trong vắt như có ý theo rõi luồng hương thơm đang thấm nhập vào các lớp khí trời. Cơn gió nhẹ pha loãng hương thơm đặc vào không gian.

Thú chơi hoa lan, uống rượu, ngâm thơ, nhai kẹo mạch nha ướp hương lan. . mà tác giả diễn tả tỉ mỉ đượïc thể hiện như một biểu tượng của những cái hay cái đẹp đã vang bóng một thời, những cái đẹp thanh tao nay đã bị thời buổi nhố nhăng làm cho tiêu hao đi mất.

Cụ Kép là người thích uống rượu ngâm thơ và chơi hoa lan. Cụ đã tới cái tuổi được hoàn toàn nhàn rỗi để dưỡng lấy tính tình. Vì bây giờ trong nhà cũng đã thừa bát ăn. Xưa kia cụ cũng muốn có một mảnh vườn để sớm chiều ra đấy tự tình. Nhưng nghĩ rằng mình chỉ là một nhà nho sống vào giữa buổi Tây Tầu nhố nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ, làm tiêu hao mất bao nhiêu giá trị tinh thần; nhưng nghĩ rằng mình chỉ là một kẻ chọn nhầm thế kỷ với hai bàn tay không có lợi khí mới, thì riêng cho thân thế, lo cho sự mất còn của mình cũng chưa xong, nói chi đến chuyện chơi hoa.

CHÉN TRÀ TRONG SƯƠNG SỚM

Đây cũng là một nghệ thuật cầu kỳ, công phu mang nhiều cá tính dân tộc, những cái hay, cái đẹp mà tác giả tiếc nhớ có những nét thật độc đáo khiến ta có cảm tưởng như đó là nghệ thuật ở một nước non xa lạ.

Buổi sớm mùa đông cụ Ấm dậy sớm từ lúc còn tối trời để đun nước pha trà. Một mình cụ thức trong căn nhà ba gian này để đun nước, Nguyễn Tuân mô tả kỹ lưỡng cảnh một ông già ngồi bên hỏa lò để nói lên cái thú của việc đun nước, nó cũng là một phần của thú uống trà.

Trong cảnh trời đất lờ mờ chưa đủ phân phần đêm và phần ngày, ông cụ Ấm có cả phong thái một triết nhân ngồi rình bước đi của thời gian.
Đêm đông dài không cùng, nó mênh mông và tự hết rất chậm chạp.

Cụ quạt hỏa lò cho than tầu nổ lép bép rồi ngồi nhìn ngọn lửa cháy, nước đã sôi, cụ pha trà xong chỉ uống hai chén con là đủ, nghệ thuật pha trà ở đây cũng là một nghệ thuật cầu kỳ y như trà đạo của người Nhật: trong cuốn phim cổ điển Sayonara, ông thiếu tá Mỹ (Marlon Brando) hỏi cô bạn gái Nhật (Mikyo Taka) khi nhìn cảnh pha trà công phu tỉ mỉ.

-Sao cầu kỳ thế?

Cô bạn đáp .

-Cái thú là ở chỗ đó.

Nghệ thuật của Nguyễn Tuân cũng gặp lại trà đạo của xứ Phù Tang cùng một điểm.

Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, cụ ấm đã để vào đấy bao nhiêu công phu. Những công phu đó đã trở nên lễ nghi, nếu trong ấm trà pha ngon, người ta chịu nhận thấy một chút mùi thơm và một tị triết lý và tâm lý.

Uống trà tầu đúng phong cách phải là đạm bạc , nhấm nháp, không phải lối uống nhanh hết chén này sang chén khác, những người uống trà sành điệu cùng uống trà với nhau một cách thanh nhã, chủ nhân phải tự tay mình chế nước, cụ Ấm còn nhớ những ngày hầu trà cho quan Đốc, vừa uống trà vừa ngâm thơ nữa, các cụ cho rằng đó là cách vận động thần khí để tiết ra ngoài những cái nặng nề trong thân thể, đón khí lành của trời đất.

Lại thêm một cách thức cầu kỳ nữa là lấy những giọt nước đọng trên lá sen, phải đi thuyền thúng vét từng giọt trên những lá sen trong hồ mới đủ nước pha một ấm trà thơm lành, cầu kỳ chưa từng thấy.

Chén Trà Trong Sương Sớm, một cái thú uống trà cầu kỳ, vô cùng thi vị qua hình ảnh một cậu học sinh đi hốt nước trên lá sen, nó cũng đượm vẻ huyền bí thanh đạm qua hình ảnh một cụ đồ nho ngồi bên bếp lửa đun nước pha trà ngâm mấy bài thơ đón khí lành đầu tiên của trời đất.

NHỮNG CHIẾC ẤM ĐẤT

Bài này cũng nằm trong phạm vi nghệ thuật uống trà nhưng nhấn mạnh về cái ấm. Cụ Sáu sai người xuống giếng chùa xin nước về pha trà uống đã gần mười năm nay, cứ nước giếng này cụ mới chịu pha trà, cụ nói chỉ có nước giếng nhà chùa mới pha được trà ngon, nếu giếng mà cạn thì cụ sẽ đem cho không bộ đồ ấm chén.

Ông cụ phá gần hết cơ nghiệp ông cha, coi phú quí không bằng một ấm trà tầu. Một người khách lạ kể chuyện một tên ăn mày cổ quái, hắn chỉ chọn những nhà đại phú vào xin ăn, một hôm hắn lại một nhà phú hộ khi họ đang đãi khách uống trà, hắn xin được uống trà tầu, họ cho hắn mượn khay, ấm, chén rồi phát than tầu cho hắn, người ăn mày đun nước pha trà, uống xong hai chén thì nheo mắt lại, hắn chắp tay vái tạ chủ nhân và thưa rằng bình trà có lẫn mùi trấu. Người ăn mày đi khỏi đến chiều chủ nhà đánh đổ trà thấy có lẫn chừng mươi mảnh trấu, họ giật mình sợ tên ăn mày là dân sành sỏi uống trà.

Cụ Sáu cho rằng tên này đã tiêu cả một sản nghiệp vào rừng trà Vũ Di Sơn nên mới sành như thế. Cụ và khách nói về các loại bình trà: Thế Đức gan gà, Lưu Bội, Mạnh Thần. Mấy năm sau ông khách đi xa về ghé nhà cụ Sáu, cụ đã bán nhà, cụ sa sút, chạy ăn từng bữa, thỉnh thoảng xin được một ít trà bèn gói lại, đợi lúc vắng pha uống. Cụ Sáu bán toàn thân cái ấm trước với giá rẻ, một thời gian sau mới bán nắp ấm được giá hơn.

Ở đây Nguyễn Tuân ca ngợi những người tài tử say mê nghệ thuật uống trà có vẻ hơi quá đáng, người thì say mê đến độ tiêu tan cả sản nghiệp phải đi ăn mày nhưng trong lòng vẫn còn say mê nghệ thuật, vẫn gõ cửa nhà giầu để xin thưởng thức chút hương vị trà, người khác mê “nhẩm sà” đến khánh tận cả gia tài, phá hết cơ nghiệp ông cha để lại để rồi phải đem bán những cái ấm đất cũ chạy ăn từng bữa.

MỘT CẢNH THU MUỘN

Cụ Thượng, là một ông quan to về hưu có hai cậu con đều là ông cử: Cậu cả quan huyện Thọ Xương, tâm thuật hèn kém, cậu Hai ở Phố hàng Gai, dậy học, người đơn giản, nghệ sĩ, đi dạy học nay tỉnh này mai tỉnh khác y như đi du ngoạn cảnh. Từ ngày cụ Thượng về ở với cậu Hai, cậu không đi tha phương nữa, gần đến Trung Thu, ông cử Hai chuẩn bị làm cái đèn kéo quân cho con trẻ, lần này lấy tích Ngô Việt Xuân Thu, lúc Phạm Lãi đem Tây Thi sang dâng Ngô Phù Sai, làm mất mười hôm mới xong. Hôm sau ông cử lại làm thêm một cái đèn cho cô bé gái.

Truyện này tả cái thú làm đèn và chơi đèn kéo quân nay đã bị rơi vào quên lãng. Một nghệ thuật làm đèn để diễn lại những điển xưa tích cũ như mượn tích trong các truyện Tam Quốc, Đông Chu. . nghệ thuật cầu kỳ phức tạp đầy ý nghĩa này bây giờ chỉ còn để lại cái tiếng vang.

NGÔI MẢ CŨ

Đây là một truyện không có kết thực ra chỉ là một tùy bút, hầu hết các truyện của Vang Bóng Một Thời được coi như tùy bút. Cụ Án mất đi để lại một cô gái mười hai tuổi, cô Tú và cậu con trai mới lên ba khi đang lúc loạn lạc. Lớn lên cô Tú không đi lấy chồng chỉ dệt vải, khâu thuê vá mướn nuôi em trai ăn học, mong chờ cái mai sau của cậu Chiêu.

Hai chị em thuê một ông thầy địa lý tên Hồ Viễn đi coi mả để soay lại mả hy vọng gia đình khá hơn cái hiện tại nghèn nàn. Cụ Hồ Viễn trước là tướng Cờ Đen oanh liệt một thời. Cô Tú thức khuya dệt vải lấy tiền thuê người khiêng cáng đưa thầy địa lý và em xuống thăm mả cụ Án, trên đường đi cụ Hồ và cậu em (Chiêu) đánh với nhau mấy ván cờ không có quân.

Bài tùy bút làm sống lại những phong tục cổ xa xưa của một nền văn minh đã qua khi con người còn đặt nhiều tin tưởng vào thầy địa lý, mồ mả ông bà. Chị em cô Tú, cậu Chiêu con quan nay đã sa sút thuê thày thăm mộ để soay mộ cho nhà được khá hơn, cô Tú dệt vải, may vá lấy tiền thuê thầy để hy vọng vào ngày mai tươi sáng, niềm hy vọng của con người y như một dòng suối chảy không bao giờ dứt.

-Cô Tú lẩn thẩn lắm, ông giời có đóng cửa ai bao giờ. Chị em nhà cô, thế nào sau này cũng khá.

Đến đây thì cô Tú khóc và oà lên thành tiếng.

-Ngày mai, tôi xuống thăm lại cái kiểu đất ở Đồng Cồn. Xong rồi tôi xuôi luôn Hà Nội. Tháng sau tôi sẽ về qua đây để chỉ bảo cách soay lại ngôi mộ.

Cốt truyện không có gì lôi cuốn đặc sắc, hành văn trong sáng, ý tưởng phong phú như một cuốn phim chiếu lại cả một thời nho giáo suy tàn với sự hy sinh cao cả y như nhân vật Tâm trong Cô Hàng Xén của Thạch Lam cùng với sự mô tả những con người kỳ dị như ông thầy địa lý.

Cụ Hồ nguyên là tướng Cờ Đen. Tên cụ khác kia. . . . . . . . . . . . . . . người ta nói chuyện lại rằng cụ Hồ hồi còn làm tướng quân Cờ Đen, mỗi lúc cụ trương lá cờ đầu lúc xuất quân, trông oai phong lẫm liệt. Bên thắt lưng điều, cụ giắt hai khẩu súng. Phía bên trái là một khẩu đoản mã, và phía bên phải là một khẩu súng thập bát hưởng bắn một lúc những mười tám phát liền.

Trong bài giới thiệu viết trên báo Ngày Nay 1940, Thạch Lam cho rằng Ngôi Mả Cũ là truyện hay nhất:

Ngôi Mả Cũ- theo ý tôi, cái truyện ngắn hay nhất toàn tập – Đưa chúng ta đến hương vị cũ kỹ và nhẫn nại của một sự hy sinh.

Sau thời loạn, một nhà gia thế chỉ còn có hai chị em. Người chị không đi lấy chồng, ở nhà dệt vải để nuôi em đi học. Cậu em chăm chỉ và ngoan ngoãn, yêu chị và kính chị như mẹ. Thêm vào tấm tình chị em thân thiết ấy, cái bóng dáng của một tướng Cờ Đen cũ, làm thầy địa lý lúc trở về già. Một bức vẽ trong đó tác giả phác họa được tất cả một gia đình nền nếp cũ, có cái ích kỷ và cái cao siêu, với đằng sau lờ mờ cảnh hãi hùng và tàn phá của những ngày loạn lạc.

THẢ THƠ

Cụ Phủ là người đức độ, cáo quan về, cụ bà và cậu con trai đã qua đời, cụ phải nuôi một cô gái xấu, cụ dậy trẻ, sao lá số, gieo một quẻ, kê đơn thuốc. . Ông trời bắt cụ phải nghèo, cô Tú phải xấu. Có người bạn khuyên cụ tổ chức một cuộc chơi thả thơ, một cách đánh bạc của những người có chữ nghĩa. Thế là cụ làm một cái bè trên mặt nước, hằng chục người đến đánh bạc trong tiếng ngâm thơ, nhưng có kẻ ác miệng nói rằng cụ thả thơ để lựa người đồng sàng cho cô Tú, từ đấy cụ không cho cô Tú xuống bè nữa, cụ cũng thua luôn từ đấy.

ĐÁNH THƠ

Cuối đời Thành Thái, ba người đàn bà đẹp, Mộng Liên, Mộng Huyền, Mộng Thu. Rồi một ông phó sứ giữ lăng làm chủ Mộng Liên, nghề phó sứ không mấy khi ở yên một chỗ, tới mỗi nơi, quan phó sứ mở cái túi đựng toàn những thơ đố ra cho người ta đặêt tiền bên chiếu bạc văn chương, quê hương là cờ bạc đàn hát, về sau phó sứ bị bệnh chết dưới chân Đèo Ngang.

Cả hai bài này tả cảnh đánh bạc bên chiếu thơ văn tao nhã, nhưng có lẽ vì cố ghi cho nhiều dữ kiện đánh thơ, thả thơ mà câu chuyện đã trở nên khó hiểu và rườm rà phức tạp, cũng có thể tác giả quan niệm tùy bút là lối viết phóng túng mặc cho ngòi bút muốn đi tới đâu thì tới nên truyện đã có nhiều khúc mắc như vậy, có lẽ đây là hai bài khó hiểu nhất trong Vang Bóng Một Thời, về điểm này Thạch Lam đã nhận xét như sau.

Một công việc dầu không khỏi có những phần khuyết điểm về mặt văn chương, chúng ta muốn tác giả Vang Bóng Một Thời đến một sự giản dị sáng sủa hơn, cố tránh những lối hành văn cầu kỳ – sự cầu kỳ trong cái tìm tòi không phải cái cầu kỳ trong cách điệu tả – tránh những chữ nhắc lại, những sự kiểu cách, những lối về âm điệu trong câu văn. Có lẽ tác giả muốn nói hết cả những cái mình biết, và tác giả biết nhiều nên có có sự lộn xộn ấy chăng?

Tôi đồng ý với Thạch Lam ở điểm tác giả muốn đưa vào tác phẩm tất cả những điều mình biết nên nhiều bài, truyện đã trở nên phức tạp thiếu sự giản dị, sáng sủa khiến cho người đọc thật là bối rối trước những chi tiết vô cùng phức tạp, khó hiểu như cách làm đèn kéo quân trong Một Cảnh Thu Muộn, hay cách đánh bạc trong Thả Thơ, Đánh Thơ. . khiến cho tác phẩm không được sáng sủa, mạch lạc so với Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam. .

Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét như sau.

Đọc Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân, người ta cũng có một cảm tưởng gần giống như những cảm tưởng trong khi ngắm một bức họa cổ. Gần giống, vì họa sĩ, tác giả bức họa cổ, là người thời xưa, có cái óc của thời mình và có những nét, những mầu của thời mình, còn tác giả Vang Bóng một Thời chỉ là người khơi đống tro tàn của dĩ vãng để bầy lại trước mắt ta những cái ta đã biết qua hay chưa biết rõ.

Vũ Ngọc Phan đã ví Vang Bóng Một Thời như một bức họa cổ, tôi nghĩ nó cũng giống như một món đồ cổ càng để lâu càng có giá trị, chẳng thế mà năm 1988 trong nước đã tái bản đến lần thứ sáu, 30.000 cuốn, tác phẩm ngày càng được độc giả hâm mộ vì họ muốn thưởng ngoạn những cái hay cái đẹp nay đã vang bóng một thời, về giá trị của tác phẩm, ông Phạm Thế Ngũ cho rằng.

. . Từ 1940 đến 1945 được in lại 3 lần, được tặng giải Gia Long và ở lại như một bảo vật của nhà hiếu cổ, một sản phẩm quý không còn bàn tay thứ hai nào chế tạo nổi nữa.

Trọng Đạt

Cập nhật: Ngày 6 tháng 4 năm 2005